Đôi khi bạn bắt gặp kiến thức bổ ích ở một trang web nào đó và muốn lưu trữ lại để đọc ngoại tuyến trên máy tính, trên các thiết bị di động hoặc chia sẻ nó cho bạn bè, hãy thử “đóng gói” chúng lại thành một cuốn eBook nhỏ gọn bằng những cách sau.
Dùng Extension của trình duyệt
Google Chrome và FireFox là hai trình duyệt hiện được ưa chuộng hiện nay bởi chúng có khá nhiều những thành phần mở rộng (Extension) hữu ích.
Đối với Chrome, bạn hãy tải Extension có tên là Save as PDF. Sau khi nhấn vào cài đặt, một biểu tượng nhỏ sẽ xuất hiện bên góc trên bên phải trình duyệt Chrome. Khi muốn “đóng gói” một trang web nào thì bạn chỉ cần truy cập vào trang web đó và nhấn vào biểu tượng này. Đợi trong giây lát, Chrome sẽ thực hiện công việc của mình sau đó tự động tải luôn file PDF vừa tạo về máy tính.
Click vào biểu tượng đã khoanh đỏ như trong hình để tiến hành đóng gói trang web
Đối với Firefox, bạn sẽ cần đến một extension có tên là PDF Download. Cũng tương tự như Chrome, sau khi cài đặt extension này, góc trên bên phải của Firefox cũng hiện ra một biểu tượng, bạn chỉ cần duyệt đến trang web cần “đóng gói” và nhấp vào biểu tượng đó để chuyển đổi nó thành định dạng PDF, sau đó tải về máy tính và sử dụng.
Extension PDF Download trên Firefox
Chuyển đổi trực tuyến trang web sang định dạng PDF
Nếu ngại dùng extension, bạn có thể truy cập trực tiếp vào website web2PDF sau đó bạn copy và dán đường dẫn (địa chỉ) của trang web muốn “đóng gói” vào ô trống và nhấn Convert to PDF, nếu muốn thêm tùy chọn, bạn hãy nhấn vào nút Option bên cạnh (để làm được điều này bạn cần đăng kí thành viên tại trang web).
Sau giây lát, nếu hiện ra dòng chữ PDF successfully created tức là bạn đã “đóng gói” thành công! Bạn chỉ việc click vào dòng Download PDF File bên dưới để tải về, click vào view in Google Docs nếu muốn xem trên Google Docs, chức năng store anh share PDF online (lưu trữ và chia sẻ trực tuyến) chỉ có thể dùng được khi bạn đăng ký một tài khoản trả phí.
Giao diện Web2PDF
Ngoài ra, website này còn cung cấp cho bạn ba công cụ khác đó là chuyển đổi Word sang PDF, PDF sang Word và PDF sang Excel. Ba công cụ này được liệt kê ở phía trên cùng của của trang web.
“Đóng gói” website qua thư điện tử
Gửi thư để chuyển đổi
Ưu điểm của cách làm này đó là file PDF nhận về sẽ được lưu trong hộp thư để bạn dễ dàng chia sẻ với bạn bè và đánh dấu nó khi cần xem lại.
Để làm được điều này, bạn chỉ cần dán địa chỉ trang web cần “đóng gói” vào khung soạn thảo mail rồi gửi đến địa chỉ submit@web2pdfconvert.com. Nếu thành công, bạn sẽ nhận được thư hồi âm có đính kèm file PDF đã chuyển đổi.
Đối với những nhân viên kỹ thuật máy tính, hoặc bộ phận quản lý hệ thống máy tính cho 1 công ty nào đó… do tính chất yêu cầu của công việc, họ sẽ thường xuyên phải cài lại hệ điều hành cho người sử dụng.
Và những khó khăn thường thấy nhất của họ là việc tìm driver thích hợp cho nhiều dòng mainboard khác nhau như card mạng, sound, card màn hình … vì phần lớn người dùng không bao giờ giữ lại đĩa driver nguyên bản đi kèm với mainboard. Trong bài viết sau, Quản Trị Mạng sẽ giới thiệu với các bạn cách khắc phục điều này với công cụ hỗ trợ sẵn có của DriverPacks.
Trước tiên, copy tất cả các file từ đĩa cài đặt Windows XP tới 1 thư mục bất kỳ nào đó, ở đây là C:\XPSOURCE:
Tải chương trình DriverPacks Base và đặt file tự giải nén đó ở 1 thư mục khác, ví dụ như C:\DriverPacks. Chạy file DriverPacks Base và giải nén toàn bộ file đi kèm tới thư mục vừa chọn:
Truy cập vào trang DriverPacks và tải gói driver phù hợp nhất. Mỗi gói driver dạng nén này sẽ có đủ cho Chipset, CPU, Graphics, LAN, MassStorage, Sound và WLAN. Copy những gói này tới thư mục C:\DriverPacks\DriverPacks (không cần phải giải nén, giữ nguyên dạng *.7z).
Tiếp theo, chạy file DPs_BASE.exe tại thư mục C:\DriverPacks. Chọn ngôn ngữ phù hợp và Next. Khi chuyển tới trang hỏi bạn về vị trí của nền tảng chính, hãy chắc chắn đang chọn “disc”, sau đó nhấn Next và trỏ tới C:\XPSOURCE. Chương trình sẽ tự động nhận diện phiên bản hệ điều hành. Bấm tiếp Next:
Chọn các gói bạn cần ghép và bấm Next. Chọn tiếp “method 1” > Next:
Bấm Slipstream để bắt đầu quá trình. Nếu di chuyển tới thư mục gốc C:\XPSOURCE, bạn sẽ thấy có 1 thư mục “$OEM$” đang được tạo. Sau khi quá trình này kết thúc, hãy ghi toàn bộ thư mục “D” từ “Source Folder \$OEM$\$1\” vào đĩa CD.
Như vậy là bạn đã hoàn thành quá trình tạo đĩa sao lưu tất cả driver mới nhất dành cho Windows XP. Nếu muốn ghi ra đĩa DVD thì chỉ cần tải về, giải nén và ghi thư mục D đó vào đĩa là ổn. Tại sao chúng ta lại làm những bước trên là do gói driverpacks nguyên bản có dung lượng lên đến 1.3GB, nhưng khi sử dụng DriverPacks Base thì chỉ mất đúng 700MB. Chúc các bạn thành công!
PDF (Portable Document Format, định dạng tài liệu di động) là một định dạng văn bản do Adobe System đưa ra hồi năm 1993 nhằm tạo thuận tiện cho nhu cầu trao đổi văn bản. Ngày nay, PDF đã trở thành một định dạng văn bản phổ cập và không còn là một định dạng độc quyền của Adobe nữa.
Việc tạo một file PDF giờ đây cũng trở nên đơn giản, không còn phụ thuộc vào các công cụ ứng dụng của Adobe. Ngay trong Microsoft Word 2007 cũng được tích hợp công cụ để tạo file PDF từ một văn bản Word.
Để chuyển một văn bản Word thành file PDF, bạn mở văn bản Word đó ra, nhấn lên nút Office, chọn lệnh Save As trên menu xổ xuống, rồi chọn lệnh PDF or XPS trong danh sách Save a copy of the document.
Trên màn hình Publish as PDF or XPS, bạn chọn folder lưu giữ file PDF sắp tạo, đặt tên file PDF đó.
Bạn có thể chọn Optimize for (tối ưu hóa cho): Standard (xuất bản online và in ấn) hay Minimum size (kích thước file tối thiểu, chỉ dùng sử dụng trên Internet).
Bạn cũng có thể nhấn nút Options… để chọn các tùy chọn theo ý mình.
Cuối cùng, bạn nhấn nút Publish để tạo thành file PDF.
Chơi nhiều file nhạc với Windows Media Player
Khi bạn click kép vào một file nhạc nào đó trong một cửa sổ Explorer (như Computer, Windows Explorer), trình Windows Media Player (WMP) tích hợp sẵn trong Windows sẽ được gọi ra chơi nhạc cho bạn nghe. Nhưng mặc định nó chỉ chơi file nhạc đó rồi thôi. Muốn nghe tiếp file nhạc nào, bạn lại phải click kép lên file đó.
Nếu muốn cho WMP 11 (Windows Vista) và WMP 12 (Windows 7) tự động chơi lần lượt các file nhạc mình muốn nghe lần này, bạn click chuột lên nút Switch to Library trên góc trên bên phải cửa sổ WMP để mở tới thư viện nhạc.
Bạn sẽ thấy tên file đang chơi xuất hiện trong danh sách Unsaved list. Bây giờ, bạn dùng trinh Explorer mở tới folder chứa các file nhạc muốn nghe, nhân giữ phím Ctrl (để chọn từng file riêng rẽ) hay nhấn giữ phím Shift (để chọn một nhóm file liên tục), rồi dùng trỏ chuột kéo nhóm file đó thả vào danh sách của WMP.
Bây giờ, trong danh sách Unsaved list của WMP đã có tên các file nhạc bạn mới thả vào. WMP sẽ ngoan ngoãn chơi lần lượt các bản nhạc đó cho bạn thưởng thức.
Ở WMP 9 và 10 (Windows XP), bạn chỉ việc mở một trình Explorer để duyệt tới folder chứa các file nhạc rồi chọn và kéo thả chúng vào danh sách WMP.
Nếu muốn nghe một lần thôi để lần khác chọn những bản nhạc khác, bạn cứ để cho WMP chơi bình thường.
Còn nếu muốn tạo một danh sách riêng cho các bản nhạc này để sau này dễ gọi lại, ở WMP 11 và 12, bạn chỉ việc nhấn lên dòng Unsaved list rồi đặt tên cho nhóm bản nhạc này. Ở WMP 9, bạn nhấn lên menu File và chọn lệnh Save playlist as.
Sau này, khi muốn chơi nhóm bản nhạc này, bạn chỉ việc chọn nó trong danh sách Playlists của WMP.
Avira là hãng phần mềm an ninh có các sản phẩm được đánh giá rất cao hiện nay với khả năng phát hiện và diệt mã độc gần như tuyệt đối. Tuy nhiên, cơ chế hoạt động hiệu quả với virus lại phát sinh những rắc rối khác với Windows. Bài viết xin chia sẻ một vài kinh nghiệm trong quá trình sử dụng Avira Premium Security Suite (APSS).
1. Ngăn chặn pop-up
Đây là vấn đề rất khó chịu mà người dùng Internet nào cũng phải gặp, Avira Premium Security Suite thực sự là “khắc tinh” của pop-up với khả năng chặn rất hiệu quả. Để kích hoạt tính năng này, bạn bấm chuột phải vào biểu tượng của APSS ở khay hệ thống > chọn Configure Antivir. Sau đó, bạn đánh dấu chọn vào Expert mode rồi vào Firewall > Popup settings; tại phần Popup settings, bạn đánh dấu chọn vào Inspect process launch stack. Khi chơi game thì APSS sẽ làm việc ở chế độ Game Mode, để chương trình ngăn chặn những pop-up xuất hiện ở khoảng thời gian này, bạn đánh dấu vào Automatically suppress popup notifications while in Game Mode. Chọn xong, bạn bấm OK để lưu lại.
2. Chặn quảng cáo có nguy cơ gây hại
Nếu pop-up gây khó chịu cho bạn thì các quảng cáo cũng không kém phần, nếu đã dùng APSS, bạn nên khai thác tính năng chặn quảng cáo của phần mềm này. Bạn chọn WebGuard rồi đánh dấu vào Block suspicious I-frames, ở đây bạn thấy có hai tùy chọn là Default và Extended. Nếu để Default thì các quảng cáo được xem là nguy hại sẽ được thay thế bằng logo của APSS kèm thông báo lỗi. Lựa chọn Extended cũng có tác dụng khóa banner ở cấp độ cao hơn, tuy nhiên trong một số trường hợp sẽ phá vỡ bố cục gốc của trang Web. Chọn xong, bạn bấm OK để cập nhật thay đổi.
Không chỉ banner quảng cáo trên Web mà cả quảng cáo trong Yahoo! Messenger cũng có thể bị APSS khóa.
Qua việc truy cập vào các địa chỉ nhiều quảng cáo và pop-up như http://9down.com, www.mediafire.com... cho thấy hai “độc chiêu” trên có hiệu quả rất cao.
3. Khắc phục “sự cố” không kết nối được mạng nội bộ
Sau khi cài đặt APSS và khởi động lại máy tính xong, có thể bạn không còn truy cập vào mạng nội bộ được nửa. Cho dù bạn kiểm tra lại phần cứng cũng như về Windows vẫn không tìm ra nguyên nhân. Dĩ nhiên, bạn không mảy may khi ngờ thủ phạm là APSS, nhưng thực tế đây chính là nguyên nhân. Để khắc phục lổi này, bạn bấm chuột phải vào biểu tượng của APSS ở khay hệ thống > chọn Configure Antivir. Sau đó, bạn đánh dấu chọn vào Expert mode rồi vào Firewall > Adapter rules và bấm nút Add rule. Sau đó, trong danh sách liệt kê, bạn bấm Allow Peer-To-Peer network rồi bấm OK. Sau đó, bạn bấm Add rule lần nữa rồi chọn Allow File and Printer Sharing > OK là xong.
4. Khắc phục lỗi không truyền tập tin trực tiếp qua Yahoo! Messenger
Ngoài lỗi trên, bạn cũng không tài nào gửi một tập tin qua Yahoo! Messenger được. Nguyên nhân cũng là do Firewall của APSS chặn lại. Bạn hãy bấm chuột phải vào biểu tượng của Avira > chọn Firewall rồi bỏ chọn mục Firewall enable để tạm thời tắt tường lửa đi. Truyền file xong, bạn hãy chọn lại mục này cho an toàn.
Bài viết dưới đây sẽ hướng dẫn bạn di chuyển dữ liệu có dung lượng lớn từ máy tính sang các thiết bị gắn ngoài kết nối qua cổng USB và ngược lại mà không mất nhiều thời gian.
USB, ổ cứng di động hay các thiết bị lưu trữ kết nối với máy tính thông qua cổng USB giờ đây đang ngày càng thông dụng. Tốc độ truyền dữ liệu tối đa của USB 2.0 là khá nhanh (khoảng 480MB/s, nhanh hơn ổ cứng kết nối chuẩn ATA nhưng vẫn chậm hơn ổ cứng chuẩn SATA).
Nếu bạn sử dụng ổ cứng gắn ngoài với dung lượng lớn và thường xuyên sử dụng nó để sao lưu thì hẳn bạn sẽ mong muốn thiết bị kết nối của mình đạt tốc độ truyền tài dữ liệu lớn để không mất quá nhiều thời gian.
Thật may, trong Windows Vista và Win7 có cung cấp cho bạn 1 tính năng gọi là Write Cache, giúp bạn tăng tốc độ truyền tải dữ liệu với các thiết bị gắn ngoài thông qua cổng USB. Để làm được điều này, bạn thực hiện theo các bước sau:
- Click Start, chọn Control Panel. Tại cửa sổ Control Panel, bạn click chọn Device Manager. Cửa sổ Device Manager xuất hiện, bạn click vào mục Hard Drives để hiển thị các ổ cứng có trên hệ thống (kể các thiết bị kết nối qua cổng USB). Chẳng hạn, trong ví dụ ở đây chúng ta sử dụng USB Kingston 2.0.
- Bây giờ, bạn click đúp vào thiết bị hiện trên danh sách (cụ thể ở đây là USB 2.0). Cửa sổ Properties của thiết bị sẽ được hiển thị. Tại cửa sổ này, bạn chọn tab Policies rồi chọn tiếp tùy chọn Optimize for performance, trong win 7 thì sẽ là Better performance
- Nhấn Ok để xác nhận thiết lập. Với Vista hệ thống sẽ hiển thị cửa sổ hỏi bạn có muốn khởi động lại hay không, bạn nhấn Yes để khởi động lại máy tính, thiết lập này chỉ có tác dụng khi bạn đã khởi động lại hệ thống. Trong win 7 thiết lập này có hiệu lực luôn mà ko cần restart.
Như vậy, bây giờ mỗi khi bạn kết nối và trao đổi dữ liệu giữa máy tính và thiết bị kết nối qua USB, tốc độ sẽ được cải thiện đáng kể và bạn không mất quá nhiều thời gian mỗi khi sao lưu hay chuyển đổi.
Bạn đang sở hữu nhiều phần mềm “xịn”, với những mã bản quyền chính hãng. Bài viết dưới đây sẽ hướng dẫn cách thức sao lưu các thông tin bản quyền phần mềm để sử dụng lần sau trong trường hợp cần phải cài mới lại hệ điều hành.
Dân trí đã từng giới thiệu một vài phần mềm với bản quyền chính hãng. Những thông tin bản quyền thường là tên, địa chỉ email đăng ký hay đơn giản chỉ là đoạn mã kích hoạt phần mềm.
Thông thường, thông tin bản quyền được chứa trên reigstry của hệ thống. Trong nhiều trường hợp, phần mềm bị lỗi hoạt động không ổn định, bạn cần phải gỡ bỏ hoàn toàn để cài đặt lại. Hoặc trong trường hợp xấu hơn, phải cài mới cả hệ điều hành và format toàn bộ ổ đĩa C, điều này sẽ làm mất thông tin bản quyền đã kích hoạt trước đó của các phần mềm.
Nếu không giữ lại những thông tin này, người dùng sẽ rơi vào tình trạng “trắng tay” và mất đi những phần mềm “xịn”.
Với những công cụ miễn phí dưới đây, bạn sẽ biết rõ các mã bản quyền mà phần mềm đang sử dụng và có thể ghi nhớ, sao lưu chúng để sử dụng lần sau khi cần thiết.
ProduKey
Nếu chỉ đơn giản muốn biết mã bản quyền các phần mềm của Microsoft (như Windows, Office…), ProduKey là phần mềm phù hợp.
Sau khi download, giải nén và kích hoạt file ProduKey.exe để sử dụng ngay mà không cần cài đặt. Tại giao diện chính, danh sách các phần mềm của Microsoft được cài đặt trên máy tính sẽ được liệt kê, kèm theo đó là mã bản quyền của phần mềm tương ứng.
Lưu ý: mã bản quyền phần mềm là Produtct Key chứ không phải là Product ID.
Để tạo file chứa những thông tin này, sử dụng chuột chọn toàn bộ các phần mềm có trong danh sách (hoặc bấm tổ hợp phím Ctrl A), rồi chọn File -> Save Selected Items,tìm vị trí để lưu file (dưới định dạng txt).
Bạn nên lưu file ở 1 phân vùng ổ đĩa khác phân vùng C để đề phòng bị mất trong trường hợp cài đặt lại Windows. Mã bản quyền này có thể sử dụng để kích hoạt những phần mềm của Microsoft (Windows, Office…) khi cần thiết về sau.
Magical Jelly Bean Keyfinder:
Nếu bạn không chỉ muốn sao lưu những thông tin bản quyền của Microsoft mà toàn bộ các thông tin bản quyền của các loại phần mềm khác, kèm theo đó là thông tin đăng ký (tên sử dụng, địa chỉ email…), hãy sử dụng Magical Jelly Bean Keyfinder.
Sau khi download, giải nén, kích hoạt file keyfinder.exe để sử dụng ngay mà không cần cài đặt. Giao diện chính sẽ liệt kê các phần mềm đã được kích hoạt bản quyền trên hệ thống, kèm theo đó là thông tin đăng ký (nếu có).
Lưu ý: một vài phần mềm sau khi đã kích hoạt bản quyền, nếu đã gỡ bỏ khỏi hệ thống đôi khi vẫn còn sót lại các thông tin liên quan, do vậy vẫn được liệt kê trong danh sách này. Nếu gặp phải các phần mềm lạ trong danh sách, bạn có thể bỏ qua chúng.
Để sao lưu những thông tin bản quyền, chọn File -> Save as, tìm vị trí để lưu file chứa thông tin (định dạng txt). Như trên, bạn cũng nên lưu file này trên một phân vùng khác ngoài ổ C.
Belarc Advisor
Nếu cảm thấy những phần mềm do Magical Jelly Bean Keyfinder liệt kê chưa đầy đủ, bạn có thể nhờ đến một phần mềm tìm kiếm và sao lưu mã bản quyền chuyên dụng và mạnh mẽ hơn.
Belarc Advisor là phần mềm miễn phí, không chỉ cho phép liệt kê các phần mềm bản quyền (và thông tin đăng ký kèm theo) có trên hệ thống, mà còn liệt kê các thông tin của hệ thống một cách chi tiết như thông tin cấu hình, các driver phần cứng, phiên bản phần mềm…
Kết quả cuối cùng được Belarc Advisor cung cấp dưới dạng một trang web (định dạng html), hiển thị trên trình duyệt web.
Sau khi download và cài đặt, phần mềm sẽ tự động được kích hoạt. Belarc Advisor sẽ mất một khoản thời gian để kiểm tra và phân tích toàn bộ các thông tin có trên hệ thống. Sau khi quá trình này kết thúc, cửa sổ trình duyệt web sẽ được hiển thị, chứa kết quả mà Belarc Advisor phân tích được.
Nếu bạn chỉ quan tâm đến thông tin các bản quyền trên hệ thống, tìm đến mục Software Licenses, tại đây chứa danh sách các phần mềm có bản quyền đã cài đặt và các thông tin liên quan.
Mặc định, file .html kết quả sẽ được chứa trong thư mục C:/Program Files/Belarc/Advisor/System/tmp/. Bạn có thể tìm đến đường dẫn này để copy file html này sang một ổ đĩa khác để sử dụng về sau.
Lưu ý: file html kết quả sẽ được chứa trên máy tính, các thông tin liên quan không hề bị gửi ra ngoài, nên vấn đề an toàn cá nhân luôn được bảo đảm. Ngoài ra, bạn cũng có thể sử dụng phần mềm mà không yêu cầu phải kết nối Internet.
LicenseCrawler
Nếu tất cả các phần mềm kể trên vẫn chưa thể liệt kê đầy đủ các phần mềm và thông tin bản quyền mà bạn đã cài đặt trên máy tính, hãy thử sử dụng LicenseCrawler.
LicenseCrawler là phần mềm miễn phí, sẽ tiến hành quét toàn bộ registry của hệ thống và từ đó đưa ra tất cả các thông tin mà các phần mềm cài đặt được ghi vào registry, kèm theo cả thông tin bản quyền.
Sau khi download, giải nén và kích hoạt file LicenseCrawler.exe để sử dụng ngay mà không cần cài đặt.
Nhấn Accept ở hộp thoại đầu tiên để đồng ý với các điều khoản sử dụng. Tại giao diện chính của phần mềm, đánh dấu vào mục ‘High Speed Scan’ để có tốc độ quét và kiểm tra tốt nhất. Nhấn nút ‘Start Search’ để bắt đầu quá trình quét và tìm kiếm các mã bản quyền.
Sau khi quá trình này kết thúc, số lượng kết quả tìm thấy sẽ được LicenseCrawler thông báo, kèm theo đó là danh sách phần mềm và mã bản quyền tìm thấy được.
Để lưu lại kết quả, nhấn File -> Save (lưu file định dạng txt theo cách thông thường), hoặc chọn File -> Save Encrypt (lưu file định dạng txt kèm theo mật khẩu để bảo vệ các thông tin bản quyền phần mềm).
Trong trường hợp các phần mềm vẫn chưa được liệt kê đầy đủ, trước khi tiến hành quét, bạn chọn HKEY_ALL dưới mục Computer để phần mềm quét toàn bộ registry của hệ thống (thay vì chỉ quét phần registry dành riêng cho phần mềm).
Với sự lựa chọn này, sẽ phải mất nhiều thời gian hơn để tiến hành và bạn cũng phải mất nhiều thời gian hơn để lọc ra đâu là những mã bản quyền mà mình cần (sau khi đã lưu file dưới dạng txt). Tuy nhiên, lựa chọn này cũng đảm bảo rằng tất cả các phần mềm và thông tin đăng ký của chúng đều được liệt kê đầy đủ.
Lưu ý: trong trường hợp sử dụng tất cả các phần mềm trên, bạn chỉ tìm thấy mã bản quyền phần mềm mà không tìm thấy tên sử dụng và địa chỉ email đăng ký, nghĩa là phần mềm không yêu cầu những thông tin này khi kích hoạt. Do vậy, khi cài đặt mới phần mềm, nếu có yêu cầu điền những thông tin trên, bạn có thể điền tên và địa chỉ email bất kỳ.
Những trường hợp khác:
Đôi khi, thông tin bản quyền phần mềm được chứa trong tài khoản người dùng trên trang chủ của phần mềm, do vậy, bạn có thể đăng nhập và tìm kiếm lại những thông tin này trên website. Hoặc đôi khi, chúng cũng có thể chứa trong email đăng ký của người dùng.
Trong những trường hợp như vậy, bạn nên chụp ảnh lại toàn bộ màn hình, rồi lưu thành những file ảnh, với tên file liên quan đến thông tin phần mềm, chứa chung vào 1 thư mục (được giữ kín). Khi cần thiết, có thể xem lại những thông tin đó trên hình ảnh đã chụp được.
Tương tự như vậy, nếu mã bản quyền phần mềm được in lên hộp chứa đĩa CD hoặc trực tiếp trên CD của phần mềm, bạn nên sử dụng máy ảnh, điện thoại di động… chụp ảnh những thông tin này lại (chụp rõ ràng và dễ nhìn), rồi sửa tên file ảnh (để dễ nhận biết) và chứa chúng trên máy tính.
Như vậy, bạn sẽ có một thư mục chứa các hình ảnh có thông tin bản quyền của phần mềm. Khi cần thiết có thể xem lại chúng để sử dụng.
Để ngăn chặn máy tính bị lây nhiễm mã độc hoặc phần mềm gây hại, bạn nên quét các file trước khi sử dụng chúng. Bài này sẽ giúp bạn sở hữu một số cách để quét file dễ dàng từ desktop.
Quét file với chương trình diệt virus
Sau khi tải về một file hoặc một văn bản đính kèm của email, bạn chỉ cần phải chuột vào file đó, chọn quét bằng chương trình diệt virus của bạn.
Nếu muốn quét nhiều file một lần, giữ phím Ctrl rồi kích các file mà bạn muốn quét.
Chương trình diệt virus sử dụng trong ví dụ này là Microsoft Security Essentials
Nếu tìm thấy virus, phần mềm sẽ tiêu diệt hoặc cho vào danh sách Quarantine (cách ly) khiến chúng không thể lây nhiễm hệ thống của bạn.
Sử dụng VirusTotal Uploader
Ứng dụng này có thể quét file của bạn với 41 chương trình diệt virus trực tuyến khác nhau. Sau khi cài đặt VirusTotal Uploader, phải chuột vào file > Send To > Virus Total.
Bạn có thể chạy VirusTotal Uploader và đăng tải file của bạn
Chương trình sẽ chuyển file tới trang web VirusTotal.com. Tại đây, file của bạn sẽ được quét với 41 chương trình diệt virus khác nhau. Sau khi hoàn tất, kết quả sẽ được hiển thị.
Nếu bạn không muốn cài đặt Uploader, bạn có thể truy cập trực tiếp trang web VirusTotal rồi tải file lên đó để quét.
Kết luận
Hầu hết các chương trình diệt virus có thể quét và bảo vệ máy tính của chúng ta khỏi những phần mềm độc hại hoặc mã độc trước khi bạn sử dụng các file. Tuy nhiên, nếu bạn vẫn chưa an toàn, hãy thực hiện theo những bước trên để có thể an tâm sử dụng dữ liệu của mình.
Vừa qua, Microsoft đã tung ra phiên bản mới Windows Vista nhằm như một bản "chữa ngượng" cho Windows Vista. Phiên bản này đã được các chuyên gia công nghệ đánh giá cao. Sau đây là 20 thủ thuật tiện ích mà bạn nên biết.
1. Taskbar icons
Để mở những ứng dụng này bằng shortcut, giữ phím Windows và nhấn phím số tương ứng với icon ứng dụng. Ví dụ, nếu IE là icon thứ nhất, nhấn phím Windows + 1 để mở IE.
2. Di chuyển các item trên thanh taskbar
Có thể những tính năng này đã có ở Windows Vista, nhưng đây thực sự là tính năng mới trong Windows 7.
3. Giao diện mới của Paint và Wordpad
Paint có thêm nhiều bút vẽ cũng như cả 2 ứng dụng đều có lựa chọn Save As mới. Tuy nhiên, bạn không thể mở nhiều hơn 1 dữ liệu hay bức ảnh trong cùng một lúc.
4. Công cụ hỗ trợ các thành viên trong gia đình hay bạn bè ở xa
Chọn Start, gõ psr để mở Problem Steps Recorder. Công cụ này có thể xem được ai đó đang làm gì. Khi công cụ này bị tắt, tất cả những gì đã quay sẽ được ghi lại dạng MHTML và nén lại để dễ gửi mail.
5. Có nhiều hơn một đồng hồ ở khay hệ thống
Đối với những người làm việc với những ngưởi ở khu vực có time zone khác, bạn có thể đặt đồng hồ cho mỗi vùng. Nhấp chuột vào đồng hồ ở khay hệ thống rồi chọn Change Date and Time Settings. Chọn thẻ Additional Clocks để hiển thị đồng hồ và cài đặt giờ (tính năng này cũng có ở Vista nhưng ít người biết được)
6. Sử dụng quyền quản trị để nhanh chóng mở một chương trình
Để mở một ứng dụng với quyền của người quản lý, bạn thường đặt ở menu Start, phải chuột vào ứng dụng và chọn Run as Administrator. Tuy nhiên, bạn có thể gõ tên ứng dụng ở thẻ Instant Search và nhấn Ctrl-Shift-Enter.
7. Thay tên Security Center bằng Action Center
Nằm ở Control Panel, Action Center bảo mật và bảo vệ thông tin cho hệ thống của bạn, nó cũng kết nối với các tính năng khác như backup settings.
8. Thanh trượt UAC (User Account Control) mới được thiết lập theo từng cấp độ
Bạn có thể mở UAC nhanh chóng bằng cách gõ uac ở thanh Instant Search. Thanh trượt mới này được đặt mặc định để tránh những lỗi cài đặt có ở Vista. Tuy nhiên, nếu thích thì bạn vẫn có thể quay trở lại với chế độ của Vista, bỏ chế độ Windows 7.
9. Tắt/mở nhanh chóng một ứng dụng Windows
Để tắt/mở nhanh chóng một ứng dụng như IE, DVD Maker hay Media Player, gõ tên ứng dụng ở thanh Instant Search và chọn Turn Windows Features On or Off dưới Control Panel. Sau đó, đặt tính năng mà bạn muốn hiển thị hoặc để ẩn.
10. Chạy phiên bản private của IE
Nếu bạn ở trong một hội nghị hay ở nơi công cộng và muốn chạy phiên bản private của IE, bạn có thể mở nhanh bằng InPrivate Browsing. Bạn có thể chuột phải lên icon của IE trên taskbar rồi chọn Start InPrivate Browsing. Hoặc ở IE, chọn Safety > InPrivate Browsing hay nhấn Ctrl-Shift-P để mở một IE mới. Bạn cũng có thể đặt một shortcut cho IE để có thể chạy tự động chế độ InPrivate Browsing. Chỉ cần nối thêm –private vào đuôi của ứng dụng. Dù bạn chạy ứng dụng private này ra sao, IE cũng không lưu lại bất kì một thông tin nào cả.
11. Tắt autodetection
Thi thoảng, khi bạn truy cập một địa chỉ, nó sẽ định vị điểm kết nối của bạn. Tuy nhiên, bạn có thể sử dụng tính năng mới InPrivate Filtering của IE, ở lựa chọn IE's Safety để chọn trình duyệt mà bạn muốn lọc ra.
12. Cài đặt quick home network
Sử dụng tính năng mới HomeGroups để chia sẻ dữ liệu, hình ảnh và máy in một cách dễ dàng với các thành viên cùng chung một mạng với bạn có chạy hệ điều hành Windows 7.
13. Tìm ra lý do gây ra lỗi
Nếu máy tính của bạn bị treo ứng dụng hay có sự cố, gõ reliability ở thanh Instant Search để mở Reliability Monitor. Nó sẽ hiển thị lịch sử reliability của hệ thống trong một khoảng thời gian cùng với lỗi xảy ra.
14. Mở System Diagnostic một cách nhanh chóng
Thay vì phải qua một loạt các bước Administrative Tools > Performance Monitor > Data Collector Sets chỉ để mở System Diagnostic DCS, bạn chỉ cần mở cửa sổ lệnh và gõ perfmon /report.
15. Giới hạn thời gian và hạn chế game đối với người dùng
Sử dụng Parental Controls trong Control Panel. Bạn không chỉ áp dụng tiện ích này ở nhà mà còn dùng được đối với các hệ thống không kết nối tới một miền tương ứng như thư viện, trường học.
16. Tìm kiếm các công cụ bị mất như Windows Mail và Photo Gallery bằng cách truy cập trang web Live Essentials.
17. Làm việc nhanh với PowerShell
PowerShell có trong Windows 7 cung ứng phiên bản semi-GUI có tên PowerShell ISE. PowerShell ISE có 3 cửa sổ: phía dưới là nhập lệnh trực tiếp, ở giữa là thoát và trên cùng là để tệp tập lệnh và lưu giữ những tệp này như những file PS1.
18. Kiểm soát truy cập các ứng dụng bằng AppLocker
Những công cụ này sử dụng lệnh và thuộc tính file để kiểm soát truy cập các ứng dụng này. Mặc dù bạn chỉ dùng AppLocker trên một miền, bạn có thể chạy cài đặt và làm quen với AppLocker bằng cách mở Administrative Tools > Local Security Policy và mở rộng Application Control Policies. Tại đây, bạn có thể thiết lập các lệnh liên quan tới publisher, path, file lỗi.
19. Tự động nhận thông báo khi có lỗi
Có lỗi sự kiện trong Event Viewer mà bạn muốn được thông báo nếu việc này tiếp tục xảy ra? Mở Event Viewer, đặt lỗi sự kiện vào bản ghi, lựa chọn sự kiện, chọn Attach Task to This Event wizard in the Actions để gắn nhiệm vụ cho sự kiện này, ví dụ như hiển thị tin nhắn, chạy chương trình hoặc gửi thông báo.
20. Hiển thị Windows Experience Index
Gõ wei ở thanh Instant Search, chọn Check the Windows Experience Index để hiển thị thông số hệ thống và thông số bộ phận riêng. Để thấy file XML, file được tạo ra khi thông số được tính toán, vào: c:\Windows\Performance\WinSAT\DataStore để hiển thị đầy đủ Windows System Assessment Tool (WinSAT).
Sau khi cài đặt máy ảo, theo mặc định bạn đã có thể sử dụng ổ USB của máy chủ (máy thực) với máy ảo này được rồi và cách đơn giản nhất để sử dụng các ổ đĩa USB là bạn hãy cắm nó vào cổng USB của máy chủ trong khi đang ở trong môi trường máy ảo. Lúc đó, cổng USB sẽ thuộc quyền quản lý của máy ảo và máy ảo sẽ nhận dạng ỗ đĩa một cách tự động giống như máy thật. Lưu ý: Khi bạn đóng máy ảo thì quyền quản lý cổng USB sẽ được trả lại cho máy thực.
Trường hợp máy ảo không sử dụng được cổng USB của máy chủ, bạn làm theo các bước dưới đây:
Trong cửa sổ Vmware, bạn kiểm tra xem trong khung Device của máy ảo đã có mục USB Controller hay chưa. Nếu chưa có, bạn hãy mở phần xác lập cấu hình cho máy ảo bằng cách bấm chuột lên mục Edit virtual machine settings trong khung Commands.
Trong cửa sổ Virtual Machine Settings, bạn chọn thẻ Hardware rồi bấm nút Add. Kế tiếp, chọn USB Controller trong hộp thoại Add Hardware Wizard để bổ sung cổng USB cho máy ảo rồi bấm nút Next để tiếp tục.
Sau đó, bạn đánh dấu chọn mục Enable high-speed support for USB 2.0 device nếu cổng USB của máy thuộc chuẩn 2.0. Đánh dấu chọn mục Automatically connect new USB devicenếu bạn muốn máy ảo tự động nhận diện thiết bị gắn vào cổ USB. Cuối cùng, bạn bấm nút Finishđể kết thúc.
Chú ý: bạn chỉ có thể cấu hình cho máy ảo khi máy ảo đang ở trạng thái tắt.
Cuối cùng, bạn nhấn nút Save changes đểu lưu các thay đổi và hoàn tất. Bây giờ bạn có thể thưởng thức màn trình diễn hình nền desktop của máy tính mình rồi đó.
Sẽ rất vui nhộn và độc đáo khi tạo file ảnh động từ đoạn video yêu thích. Những hình ảnh động này có thể sử dụng để làm ảnh đại diện khi tham gia diễn đàn hay đơn giản để chia sẻ cho mọi người cùng xem.
Ảnh động là file ảnh được ghép lại từ các từ các khung hình, tọa nên sự chuyển động của hình ảnh. Ngày nay, có rất nhiều ảnh động được chia sẻ trên Internet, tuy nhiên, tự tạo ra một hình ảnh yêu thích của riêng mình sẽ đặc biệt và độc đáo hơn.
Hiện có khá nhiều phần mềm có tính năng chuyển đổi file video thành ảnh động, tuy nhiên phần lớn chúng đều là các phần mềm dùng thử và có thu phí. Với thủ thuật dưới đây, bạn có thể thực hiện việc này hoàn toàn miễn phí.
Sử dụng Windows Movie Maker để biên tập video:
Windows Movie Maker là công cụ biên tập phim và tạo slideshow sẵn có của Windows. Để tạo được file ảnh động yêu thích từ 1 đoạn video, điều đầu tiên cần làm là biên tập file video đó và trích ra đoạn film yêu thích nhất để sử dụng.
Để kích hoạt Movie Maker, với người dùng Windows Vista/7, nhấn nút Start, gõ Movie Maker vào khung tìm kiếm và nhấn Enter. Với người dùng Windows XP, bạn lựa chọn Windows Movie Maker từ trong menu start.
Trong trường hợp không tìm thấy Windows Movie Maker trên máy tính của mình, bạn có thể download và cài đặt phần mềm hoàn toàn miễn phí tại đây.
Lưu ý: thủ thuật dưới đây được hướng dẫn trên phiên bản Windows Movie Maker phiên bản 6.0 trên Windows Vista. Các phiên bản khác có thể có một vài sự khác biệt nhưng cách tiến hành thì hoàn toàn tương tự.
Đầu tiên, bạn cần đưa đoạn video cần biên tập vào Windows Movie Maker để bắt đầu chỉnh sửa. Bạn có thể làm điều này bằng cách kéo và thả file video vào trong cửa sổ của phần mềm. Hoặc bạn cũng có thể chọn File -> Import Media Items từ menu của chương trình, tìm và chọn file video cần sử dụng. (hoặc là File -> Import Into Collections đối với các phiên bản Windows Movie cũ hơn)
Sau khi đã chọn xong, file video cần sử dụng sẽ xuất hiện trong giao diện của Windows Movie Maker. Trong ví dụ ở đây, chúng ta lựa sử dụng file video Butterfly.
Sử dụng chuột, kéo và thả file video được chọn vào khu vực timeline (thanh thời gian) ở bên dưới giao diện của Windows Movie Maker.
Bây giờ, bạn có thể bắt đầu quá trình chỉnh sửa và khoang vùng nội dung của file video để chuyển thành file ảnh động. Như trên đã nói, ảnh động là sự kết hợp của nhiều khung hình liên tiếp nhau, do vậy thường có dung lượng khá lớn, đặc biệt nếu bạn sử dụng cả 1 file video nguyên gốc để chuyển thành ảnh động, dung lượng file ảnh có được sẽ rất lớn và rất khó khăn để chia sẻ. Do vậy, bạn chỉ nên cắt và chọn đoạn nội dung yêu thích nhất để chuyển nó thành file ảnh động.
Để thuận tiện trong việc chọn và cắt ra đoạn nội dung yêu thích, bạn có thể sử dụng tính năng Zoom In (bằng cách chọn biểu tượng chiếc kính lúp và dấu + trên thanh timeline).
Để bắt đầu “khoanh vùng” đoạn nội dung muốn sử dụng để chuyển thành file ảnh động, bạn đưa chuột đến đầu mút bên trái của thanh Timeline, dùng chuột kéo đoạn nội dung về phía phải (xuất hiện mũi tên màu đỏ) đến thời điểm bắt đầu đoạn nội dung cần sử dụng. Tiếp theo, di chuyển chuột đến đầu mút bên phải thanh Timeline, cầm và kéo chuột về phía bên trái, đến thời điểm kết thúc của đoạn nội dung cần trích xuất.
Bây giờ, bạn sẽ có một đoạn clip nhỏ hơn, với đoạn nội dung mà bạn muốn chuyển nó thành file ảnh động. Trong trường hợp đoạn phim bạn cắt không đúng như ý muốn, có thể nhấn tổ hợp phím Ctrl Zđể tiến hành lại từ đầu.
Lưu ý: đoạn phim bạn cắt chỉ nên có độ dài không quá 10s để có được dung lượng file sau khi chuyển thành ảnh động không quá lớn.
Tiếp theo, bạn chọn File -> Publish Movie (hoặc File -> Save Movie File).Tại hộp thoại hiện ra, bạn chọn This Computer rồi nhấn Next.
Hộp thoại tiếp theo, bạn điền tên file sau khi xuất ra, nhấn Browser để chọn vị trí lưu file và nhấn Next để tiếp tục.
Ở hộp thoại cuối cùng, để giữ cho file video có dung lượng không quá lớn (thuận tiện hơn khi chuyển đổi sang ảnh động), đánh dấu vào tùy chọn More Settings, và chọn tùy chọn Windows Media Portable Devices (hoặc chọn bất cứ tùy chọn nào mà mục File Size có dung lượng không quá lớn, khoảng dưới 5MB).
Nhấn nút Publish để lưu lại nội dung file video đã chỉnh sửa.
Ngoài cách sử dụng Windows Movie Maker, bạn cũng có thể sử dụng Daniusoft Video Converter Free để biên tập đoạn nội dung video.
Chuyển đổi đoạn video thành ảnh động:
Sau khi đã hoàn tất các bước để biên tập nội dung đoạn video, bây giờ, bạn truy cập vào http://www.gifninja.com/ConvertVideoToGif.aspx, nhấn nút Browser, tìm đến đoạn video đã có được ở trên và nhấn nút make a Gif!.
Lưu ý: đánh dấu vào tùy chọn trên nếu bạn không muốn chia sẻ ảnh động của mình với người dùng dịch vụ này, còn đánh dấu chọn tùy chọn dưới, hình ảnhcủa bạn sẽ được chia sẻ và được mọi người bình luận, nhận xét.
Chờ trong giây lát để quá trình upload và chuyển đổi diễn ra.
Cuối cùng, lưu lại kết quả của mình để chia sẻ với mọi người thành quả mà bạn đã tạo được. Chất lượng của hình ảnh kết quả là khá tốt.
File ảnh động, định dạng GIF
Nếu bạn muốn có nhiều tùy chỉnh hơn cho file ảnh động của mình (thay đổi kích cỡ, tần số frame/giây…), bạn có thể nhờ đến phần mềm SUPER, download miễn phí tại đây.
Về mặc định, SUPER là phần mềm chuyển đổi định dạng Video, tuy nhiên trong đó cũng có cả tính năng chuyển đổi file video thành ảnh động GIF.
Trong giao diện cài đặt đầu tiên, bạn chọn English (tiếng Anh) làm ngôn ngữ mặc định và tiến hành cài đặt bình thường.
Trên giao diện chính của phần mềm, nhấn vào biểu tượng chữ M ở góc trên bên phải, chọn Add Multimedia File.
Tại mục tùy chọn đầu tiên bên tay trái, bạn kích vào biểu tượng mũi tên và chọn GIF (for making avatar) ở menu sổ xuống. Tại mục tùy chọn Video bên dưới, bạn có thể điều chỉnh để thay đổi kích cỡ của file ảnh động tạo ra, tỉ lệ hình ảnh (16:9 hoặc 12:5…), tần số khung hình/giây (frame/s), tần số bitrate…
Lưu ý: Những tần số này ảnh hưởng trực tiếp đến kích cỡ của file ảnh tạo thành, do vậy nếu file ảnh kết quả có dung lượng quá lớn, bạn có thể thử thay đổi các chỉ số này và thử lại.
Cuối cùng, nhấn nút Encode (Active Files) ở bên dưới giao diện phần mềm.
Quá trình chuyển đổi sẽ diễn ra. Sau khi quá trình này kết thúc, 1 file ảnh động mới sẽ xuất hiện, nằm cùng thư mục với file video được chọn. File ảnh động vẫn giữ nguyên được chất lượng hình ảnh rất tốt và không thua kém gì chất lượng của file video.
Xem ảnh động trên Windows Vista:
Phần mềm xem ảnh mặc định của Windows Vista, Windows Photo Gallery có một hạn chế khi xem các hình ảnh động, đó là chỉ xem được frame đầu tiên của ảnh động. Nghĩa là khi bạn mở 1 file ảnh động trên Vista, hình ảnh đó chỉ xuất hiện dưới dạng hình ảnh tĩnh.
Để khắc phục tình trạng nãy, nếu đang sử dụng Windows Vista, khi xem ảnh động, bạn kích chuột phải vào file ảnh, chọn Open with -> Internet Explorer.
Hoặc bạn cũng có thể nhờ đến các phần mềm xem ảnh như InfanView, download hoàn toàn miễn phí tại đây để xem các file ảnh động do chính mình tạo ra.
Có nhiều công cụ rất tốt cho phép bạn chuyển đổi bài trình diễn PowerPoint sang định dạng video nhưng hầu hết chúng đều có phí.
AuthorStream là một website tốt có thể chuyển đổi miễn phí slide trình diễn PowerPoint sang video. Ngoài ra, bạn có thể gởi trực tiếp video lên YouTube.
Bạn cần đăng kí để sử dụng công cụ này. Bạn cũng có thể sử dụng công cụ này mà không cần đăng kí nhưng mọi người có thể xem được file mà bạn upload.
Trước khi upload slideshow, mở nó bằng Microsoft PowerPoint. Vào thẻ Slideshow và click Rehearse Timings. Nó giúp bạn xác định thời gian hiển thị của slide trên màn hình.
Nếu bạn không thực hiện chức năng này, AuthorStream sẽ không thể chuyển đổi PPT sang video.
Bây giờ, đến website AuthorStream. Đăng kí dịch vụ. Đăng nhập với username và password của bạn. Click chọn Upload PowerPoint -> Upload from Desktop.
Trang kế tiếp sẽ xuất hiện. Click nút From Desktop nếu bạn muốn upload file từ desktop. Điền vào ô Title và chọn hay không chọn hộp bên phải để giữ file riêng tư hay công cộng. Click nút Upload Now.
File của bạn sẽ được upload trong vài giây.
Sau khi upload, công cụ sẽ bắt đầu quá trình chuyển đổi. Nó sẽ gởi e-mail cho bạn khi quá trình chuyển đổi hoàn tất. Bạn cũng có thể kiểm tra trạng thái bằng cách click link được cho trên trang.
Một lúc sau, bạn nhận được một e-mail, click link được cho trong đó. Bạn sẽ nhìn thấy bài thuyết trình được upload. Click Convert to Video để chuyển đổi sang video.
Khi bạn click link này, nó sẽ bắt đầu quá trình và gởi bạn một e-mail với link cuối cùng khi nó hoàn tất. Khi bạn click link cuối cùng, bạn nhận được một trang giống hình dưới.
Tuỳ thuộc vào kích thước của file PowerPoint, thời gian chuyển đổi sẽ thay đổi. Chất lượng video đầu ra rất tuyệt. Có một tuỳ chọn để upload trực tiếp video lên YouTube. Bạn cũng có thể tạo một video podcast và chuyển nó đến iTunes.